Tip and Tutorial

Hướng Dẫn Cơ Bản Về Compression

Trên cả các hiệu ứng khác, compression có thể đem lại một sức ảnh hưởng mạnh mẽ (hoặc nhẹ nhàng) ở mọi mức độ của các quy trình sản xuất nhạc, từ thu âm đến master.
Nguyễn Minh Hằng 08 tháng 12,2021

Do I Need Mixing or Mastering for My Music? What's the Difference?

Hãy thử tưởng tượng bạn lần đầu tiên ngồi trên chiếc xe đạp. Nếu thiếu hệ thống treo, mọi chướng ngại vật, ổ gà, đoạn gồ ghề trên con đường đều được kết nối trực tiếp tới những bộ phận nhạy cảm nhất trên cơ thể của bạn. Nếu thiếu compression (nén âm thanh), âm thanh cũng tương tự như vậy - mỗi âm thanh, nhịp, chi tiết nhỏ nhất của âm nhạc được kết nối trực tiếp với một trong những bộ phận nhạy cảm nhất trên cơ thể của bạn: đôi tai.

Thi thoảng, đó chính xác là điều mà bạn muốn. Nhưng trong hầu hết các thể loại nhạc hiện đại, compression là một phần không thể thiếu trong âm thanh của hầu hết những thứ âm nhạc chúng ta thường nghe. Giống như một hệ thống treo tốt giúp xe chuyển động một cách êm dịu hơn, compressors (bộ cân bằng chi tiết tín hiệu) sẽ điều chỉnh cho những tín hiệu âm thanh đồng đều hơn. Điều này sẽ khiến cho âm thanh trở nên dễ chịu hơn khi nghe, hoặc khiến chúng trở nên dễ dàng hơn khi cân bằng trong một bản mix, hoặc thêm một nét “ấm áp” đặc biệt nào đó cho âm thanh.

Nói cách khác, giống hệ thống treo của một chiếc xe đua tốt, chúng có thể được sử dụng với mục đích về mặt kiểm soát và tốc độ hơn, thay vì là sự thoải mái. Bộ compressor có thể có một sức ảnh hưởng mạnh mẽ và cho phép bạn đẩy âm nhạc của mình đến những giới hạn nhất định.

COMPRESSION THỦ CÔNG

Thỉnh thoảng thì cách tiếp cận đơn giản nhất là cách tốt nhất

Những bộ compressor điện tử như chúng ta đã biết thì mới chỉ được sử dụng rộng rãi bắt đầu từ những năm 60. Điều đó không có nghĩa là trước thời điểm ấy người ta không sử dụng compression, mà họ sử dụng chúng “bằng tay”...

Về cơ bản, compression tập trung vào việc kiểm soát dải động (dynamic range) của âm thanh. Dải động là sự khác biệt giữa những âm thanh lớn nhất (loud) và mềm (soft) nhất trong một ca khúc hoặc màn trình diễn. Giọng hát, bass guitar và trống đều có một dải động tự nhiên rộng, trong khi đó những âm thanh của sáo hoặc những hợp âm của các nhạc cụ dây thường có xu hướng đồng đều và có dải động nhỏ hơn.

Bất kỳ bản mix nào cũng sẽ có một dải động lý tưởng dành cho mỗi nhạc cụ - vẫn giữ được sự đa dạng đủ để chứa đựng sự thú vị và cảm xúc, nhưng cũng được kiểm soát đủ để có thể nghe được, mà không bị mất đi hoặc bị lấn át bởi những âm thanh khác.

Kỹ thuật microphone

Cách đơn giản và trực tiếp nhất để kiểm soát dải động là ở nguồn âm thanh. Một ví dụ điển hình là khi những ca sĩ thường sử dụng kỹ thuật mà được biết đến rộng rãi với cái tên “kỹ thuật microphone”.

Bạn sẽ thường thấy là một ca sĩ hát live tốt hay kéo mic xa ra đối với những nốt nhạc lớn nhất và kéo lại gần cho những khoảnh khắc nhẹ nhàng hơn. Bạn có thể thực hiện điều tương tự như vậy bằng cách yêu cầu ca sĩ di chuyển lại gần và ra xa chiếc mic trong studio.

Kỹ thuật này có ưu điểm và khuyết điểm của nó. Về mặt ưu điểm, nó mang tính ngay lập tức, có hiệu quả và chi phí rẻ. Mặt khác thì người thực hiện cần có kỹ năng và luyện tập để có thể xử lý đúng cách. Nhiều ca sĩ thường quá lạm dụng nó và việc loại bỏ những hiệu ứng này có thể còn trở nên tốn thời gian hơn.

Sử dụng fader

Nói theo một cách đơn giản là bạn có thể giảm bất cứ âm thanh nào quá lớn xuống và tăng bất cứ âm thanh nào quá nhỏ lên. Cũng giống với kỹ thuật microphone, cách tiếp cận này cũng có ưu điểm và nhược điểm. Như với kỹ thuật microphone thì nó miễn phí, và đem lại âm thanh tự nhiên. Người mix sẽ chọn một mức độ lý tưởng cho mỗi phrase, và miễn là mức độ đó không thay đổi, thì phần đó nhìn chung sẽ có âm thanh tự nhiên hơn.

Về mặt nhược điểm, đây là một cách thức rất tốn thời gian. Thậm chí với công nghệ máy tính tự động hiện đại, nó cũng có thể tiêu tốn nhiều lần nghe đi nghe lại một track để đảm bảo mọi thứ được thực hiện một cách hợp lý nhất. Ngoài ra, giống với kỹ thuật mic, cách thức này sẽ không có cái âm thanh compression đặc trưng mà nhiều thể loại nhạc khác yêu cầu. 

Mặc dù vậy thì nó vẫn đáng để thử nghiệm. Chúng tôi đã thử thực hiện mix một vài track sử dụng compression ở mức tối thiểu nhất, với tất cả mọi thứ khác được xử lý bằng tay; kết quả cho ra khá là tuyệt. Đặc biệt, sử dụng fader để nén âm thanh có thể cho ra được những thành quả tuyệt vời - bạn thậm chí có kiểm soát hơn và bộ compressor cũng không cần phải sử dụng đến nhiều.

Thông thường sẽ có những lúc mà chỉ mỗi compression thủ công là chưa đủ, hoặc đơn giản là quá tốn thời gian. Ví dụ, nếu một phần vocal có thể được cân bằng theo từng câu một, vậy thì tốt, nhưng giọng của con người là một trong những nguồn âm thanh có dải động rộng nhất và thường chúng ta cần phải điều chỉnh rất nhiều. Trong những trường hợp như vậy, thì đã đến lúc sử dụng đến một bộ compressor.

GIẢI THÍCH VỀ COMPRESSOR

Như những cách thức thủ công kể trên, một bộ compressor cũng kiểm soát dải động bằng cách làm giảm mức độ của âm thanh đi, nhưng nó được thực hiện một cách tự động, phụ thuộc vào những cài đặt mà bạn chọn. Để hiểu hơn về cách nó hoạt động như thế nào, hãy vẫn cứ nhớ đến ví dụ về hệ thống treo của xe ô tô. Hệ thống treo chính là một bộ compressor, theo một cách nghĩ nào đó, được sử dụng để kiểm soát “dải động” của bề mặt đường - những chướng ngại vật, gồ ghề, ổ gà.

Khiến âm thanh trở nên êm dịu hơn

Độ êm ái khi lái xe được xác định bằng sự mức độ chịu đựng của chiếc lò xo trong hệ thống xe. Nếu bạn tựa người vào một chiếc xe ô tô, nó sẽ lún xuống nhanh đến mức nào để hấp thụ sức nặng của bạn? Trong một bộ compressor, độ “mềm” này được xác định bởi tỷ lệ nén (ratio).

Một tỷ lệ nén thấp hơn sẽ khiến cho xe bạn chuyển động êm ái hơn; hầu hết các xe ô tô dành cho gia đình có hệ thống treo được lắp đặt theo cách đó, nhưng khi lái xe nhanh thì xe sẽ có nhiều chuyển động hơn và bạn cũng sẽ có ít tầm kiểm soát hơn. Những tỷ lệ nén cao hơn sẽ giống với trường hợp hệ thống treo ở những xe có tốc độ cao, khi mà sự êm ái khi lái xe không quan trọng bằng tầm kiểm soát.

Tiếp theo là tốc độ mà hệ thống treo phản ứng với những thứ gồ ghề trên mặt đường. Trong một bộ compressor, những khoảng thời gian attack (thời gian dây dưa từ khi được kích hoạt cho tới khi nén cực đại) và release (thời gian dây dưa từ khi bị ngắt kích hoạt cho tới khi ngưng nén hoàn toàn) xác định tốc độ bộ compressor sẽ phản ứng nhanh đến mức nào đối với tín hiệu input (attack) và khi được ngắt (release). Khoảng thời gian attack cần phải phù hợp với chất liệu âm thanh đó. Hãy tưởng tượng một chiếc xe khi đi vấp vào ổ gà quá nhanh - hệ thống treo không phản ứng kịp dẫn đến xe chuyển động không êm dịu. Điều tương tự sẽ xảy ra với âm thanh nếu thời gian attack của một bộ compressor quá chậm.

Một cài đặt quan trọng cuối cùng là threshold (ngưỡng nén). Threshold xác định khi nào bộ compressor sẽ bắt đầu hoạt động, tùy thuộc vào tín hiệu input.

Make-up gain

Một cài đặt khác trên bộ compressor không thể được so sánh với ví dụ về xe ô tô là make-up gain (âm lượng bù lại). Những bộ compressor kiểm soát độ khác biệt của tín hiệu input và thường làm giảm đi dải động của nó. Nói một cách dễ hiểu hơn, là chúng làm giảm những thứ âm thanh lớn xuống.

Điều này nghĩa là khi lần đầu nối bộ analogue compressor vào, nó sẽ khiến tín hiệu âm thanh tổng thể thấp xuống. Để tránh việc phải liên tục đẩy fader lên để bù lại cho mức độ âm lượng bị giảm đi, hầu hết các bộ compressor cho phép bạn sử dụng make-up gain. Đây chỉ là một cách kéo tín hiệu lên lại để cân bằng sự giảm đi của dải động bị gây ra bởi compressor. 

Có thể bạn chưa bao giờ nhìn thấy tính năng này khi sử dụng một compressor plugin - nhiều bộ compressor số hiện nay có bao gồm make-up gain tự động như một thông số mặc định - nên hiệu ứng mà bạn nghe khi cho thêm compression đơn giản là những tín hiệu nhỏ được tăng lớn lên, với những biên độ cao nhất thường được giữ nguyên. Điều này có thể khiến việc sử dụng trở nên nhanh và dễ dàng hơn, nhưng nó cũng có thể dẫn đến việc bị lạm dụng.

Đôi tai của chúng ta có xu hướng cho rằng bất cứ âm thanh gì lớn sẽ nghe hay hơn. Với make-up gain tự động, chúng ta cứ tiếp tục chồng các compression lên nhau, nghĩ rằng nó sẽ nghe hay hơn, và bị phân tâm khỏi những khía cạnh tiêu cực: dải động bị giảm, gain pumping (những sự biến đổi âm lượng đột ngột có thể nghe được) và âm thanh bị méo ngoài ý muốn.

Gain reduction

Một cách để tránh điều này xảy ra là liên tục để ý tới đồng hồ đo của bộ compressor: công cụ đo cường độ tín hiệu. Mức độ cần thiết của gain reduction phụ thuộc vào những gì mà bạn đang thu âm; vocal và bass có thể cần compression nặng hơn trong khi những âm thanh keyboard và nhạc cụ dây thì gần như là không cần đến. 

Thực tế, hãy thật để ý khi bạn bắt đầu nhìn thấy mức độ gain reduction vượt ngưỡng 8-10dB. Nếu bạn kéo ngưỡng nén (threshold) xuống sâu hơn và không nghe thấy những sự thay đổi rõ rệt, bạn nên chuyển sang thử những cài đặt khác.

Knee (thông số)

Knee (thông số) của một bộ compressor dùng để chỉ các tỷ lệ nén bắt đầu thay đổi khi nào và như thế nào khi compressor bắt đầu hoạt động. “Hard knee” nghĩa là bộ nén sẽ nén tín hiệu ngay lập tức khi tín hiệu input chạm ngưỡng nén, ngược lại thì “soft knee” nghĩa là compression dần dần trở nên dễ nghe hơn. “Soft knee” cũng có nghĩa là bộ nén sẽ nén tín hiệu trước khi tín hiệu đạt ngưỡng nén..

Nếu các ống lót trong hệ thống treo của một chiếc ô tô bắt đầu mòn đi, bạn sẽ cảm thấy chúng như một hiệu ứng “hard knee”. Thông thường chúng sẽ khiến cho xe chuyển động êm ái trên những đoạn hơi gồ ghề mà chưa cần sử dụng đến những lò xo chính. Tuy nhiên, khi chúng trở nên mòn đi, chúng không còn hoạt động hiệu quả nữa và chuyển động của hệ thống treo cũng trở nên đột ngột hơn.

BỐN LOẠI COMPRESSION

Để có âm thanh tự nhiên, hãy sử dụng attack chậm hơn (dài hơn 75ms), tỷ lệ nén thấp hơn (ít hơn 2:1) và luôn luôn cho phép compressor được “nghỉ ngơi” về mức 0 vài lần trong một bar.

Để có một âm thanh mạnh mẽ hơn, hãy sử dụng tỷ lệ nén và threshold cao hơn, nhưng hãy đảm bảo rằng bạn không bị méo tiếng ngoài ý muốn.

Để có một âm thanh dày hơn, hãy sử dụng attack nhanh hơn, tỷ lệ nén tầm trung bình và threshold thấp hơn. Tuy nhiên, hãy chuẩn bị cho việc phải sử dụng nhiều đến gain reduction.

Để có một hiệu ứng cường độ lớn, hãy sử dụng attack nhanh, tỷ lệ nén cao và thời gian release nhanh hơn. Hãy sử dụng chúng lên một stereo buss (kênh output stereo) để chỉ tác động lên một phần của bản mix (như bass và trống) và đảm bảo rằng mỗi hiệu ứng được sử dụng đúng thời điểm với nhạc.

SỰ PHỨC TẠP CỦA COMPRESSION

Compression là một hệ thống phức tạp. Các thông số tương tác lẫn nhau và cho ra những kết quả khác nhau tùy thuộc vào tín hiệu âm thanh nguồn. Chúng cần phải được cân bằng một cách cẩn thận để cho ra âm thanh phù hợp, khiến việc học về compression trở thành một thứ gì đó rắc rối. Hãy nhìn vào một số ví dụ.

Một chiếc xe ô tô dành cho gia đình cần một hệ thống treo mềm. Tỷ lệ nén cần phải cao đủ để hấp thụ năng lượng và khiến xe chuyển động êm ái hơn, nhưng nếu nó quá cao thì hệ thống treo sẽ cảm thấy cứng nhắc và bạn sẽ bị rung lắc. Trong âm nhạc, tỷ lệ nén cần đủ cao để kiểm soát mức độ tín hiệu theo cách mà bạn muốn, nhưng không quá nặng để năng lượng và “hồn” của bài nhạc không bị lấn át mất.

Hệ thống treo của một chiếc xe cần phải phản ứng nhanh với những thứ gồ ghề. Nếu nó có “thời gian attack” chậm, bạn sẽ cảm thấy va chạm trước khi lò xo có thời gian để hấp thụ cú va chạm đó. Nó cần một thời gian release nhanh, để cho phép các bánh xe phản ứng theo theo bề mặt của con đường, nếu không bạn sẽ cảm thấy một sự “nảy” lớn sau đó. Tương tự, thời gian attack của compressor cần đủ nhanh để kiểm soát những sự thay đổi trong mức độ tín hiệu, trong khi nếu thời gian release quá dài thì bạn sẽ nghe thấy chúng “nảy” sau đó.

Threshold (ngưỡng nén) cần phải được đặt để hệ thống treo của ô tô hoạt động khi cần. Nếu chiếc xe đang phải chở một khối lượng lớn, nó có thể đã lún xuống phần hệ thống treo với các lò xo đã hoạt động sẵn. Nếu bạn vấp vào một ổ gà nó sẽ không còn đủ chỗ để hấp thụ sự tác động ấy nữa. Điều này cũng tương tự với khi đặt mức độ threshold quá thấp trên một compressor. Nếu threshold quá cao, compressor sẽ gần như không có tác dụng gì. Điều này giống như ô tô không đủ nặng để khiến cho các lò xo hoạt động.

Khám phá những chi tiết nhỏ

Không phải tất cả các cài đặt của compressor đều tương tự với ví dụ hệ thống treo của xe ô tô. Hãy tưởng tượng bạn muốn có âm thanh kinh điển “pump and suck” mà Daft Punk đã sử dụng trong “One More Time”. Âm thanh đó được thực hiện bằng cách sử dụng compressor với tỷ lệ nén cao, attack nhanh và thời gian release dài. 

Vậy nên, những quy tắc chính chúng ta đã nói đến ở trên mới chỉ là phần mở đầu của câu chuyện thôi. Như tất cả các quy trình trong thu âm và mixing,  bạn cũng vẫn có thể lờ đi những quy tắc được ghi trong sách. Nếu bạn cảm nhận bằng tai và thấy phù hợp, thì nó là phù hợp!

Hãy so sánh các bộ compressor với nhau và chúng sẽ có âm thanh khác nhau khi được sử dụng cho cùng một tần số, thậm chí với những cài đặt như nhau. Vì vậy, một số sound engineer sử dụng compressor để thêm một nét “đặc trưng” nào đó cho âm thanh, thay vì là đơn thuần kiểm soát nó.

Nét “đặc trưng” có thể nghĩa là hiệu ứng mà việc kiểm soát cường độ làm ảnh hưởng lên âm thanh (một vocal được nén tốt có thể có âm thanh đầy đặn hơn, ấm áp và gần gũi hơn, khi âm thanh nguyên bản thì mỏng, cứng nhắc và rời rạc). Nó cũng có thể nghĩa là những đặc điểm của âm thanh khi sử dụng một thiết bị compressor cứng - như những núm vặn của chiếc Faichild, hoặc thời gian attack nhanh như chớp của chiếc Urei 1176. Hãy nhớ rằng, những quy tắc được đưa ra ở đây là để áp dụng vào những phần mềm compressor mang tính “toán học”. Đừng mong chờ tỷ lệ nén 4:1 trên compressor của Logic sẽ có âm thanh giống với một thiết bị cổ nào đó, hay thậm chí là ở một phần mềm cạnh tranh nào đó trong thời điểm hiện tại.

5 LỜI KHUYÊN

1. Tự quyết định thứ mà bạn muốn

Bạn đang tìm cách kiểm soát cường độ tín hiệu? Hay bạn muốn thay đổi âm thanh và tạo nên một hiệu ứng kỳ lạ nào đó? Hãy cứ tiếp tục nghe đi nghe lại với một mục tiêu cuối cùng trong đầu. Hãy chọn một xuất phát điểm mang tính trung lập. Chúng tôi đề xuất nên sử dụng một tỷ lệ nén khoảng 2:1, thời gian attack 75ms và thời gian release khoảng 100ms.

2. Bắt đầu bằng cài đặt thông số lớn

Hãy thử kéo ngưỡng nén của compressor xuống cho đến khi nó bắt đầu hoạt động - điều này có thể hữu ích khi bắt đầu với một phiên bản phóng đại để tìm ra những cài đặt phù hợp. Bạn có thể nghe dễ dàng hiệu ứng của attack và release ở một cài đặt thông số cực lớn.

3. Hãy lắng nghe!

Chau chuốt lại những cài đặt, nhớ về những mục tiêu bạn có trong đầu. Một khi bạn đã tiến gần hơn với mục tiêu đó, bạn có thể tùy chỉnh threshold cho lượng compression phù hợp để có được hiệu ứng mà bạn muốn.

Để có một âm thanh mượt mà hơn, hãy thử thời gian attack nhanh hơn và tỷ lệ nén cao hơn, nhưng hãy đảm bảo rằng năng lượng của âm thanh vẫn được bảo toàn. Để giảm độ “nảy” (khi bạn có thể nghe thấy đột ngột giảm xuống khi compressor xen vào và tăng đột ngột lại khi được ngắt), hãy thử thời gian release ngắn hơn và giảm threshold xuống, hoặc thử sử dụng tỷ lệ nén thấp hơn. 

Để có âm thanh mạnh mẽ hơn, hãy thử nghiệm với những tỷ lệ nén cao hơn, thời gian attack dài hơn một chút và thời gian release ngắn hơn, nhưng hãy để ý nếu bạn gặp phải “pumping” (khi phần cuối của nốt nhạc lớn hơn phần đầu) và méo âm thanh ngoài ý muốn.

4. …nghe lại lần nữa!

Chúng nghe như thế nào? Hãy cân bằng giữa các cài đặt khác với nhau. Ví dụ, những tỷ lệ nén cao hơn thường cần threshold cao hơn nếu bạn muốn tránh một âm thanh bị nén quá nặng. Nhưng cũng có thể là bạn không muốn…

5. Đừng ngại thử nghiệm

Một số những âm thanh vĩ đại nhất trong nền âm nhạc đại chúng là kết quả của việc sử dụng compressor - và cả những âm thanh khó chịu nhất nữa! Sử dụng quá nhiều compression khi không cần thiết thì gần như là lúc nào cũng tệ hơn việc dùng quá ít.

Tuy vậy thì cuối cùng, không có đúng và sai khi nói đến những cài đặt của compression - chỉ có những âm thanh mà bản thân bạn cảm thấy đúng thôi.

(theo MusicRadar)

Related post