Tech

10 Synth Preset Hay Nhất Lịch Sử, Và Nơi Để Kiếm Chúng

Dù bạn đồng tình hay không, đây là những synth preset đã đi vào lịch sử.
Nguyễn Minh Hằng 04 tháng 11,2021

What is a Synthesizer? A Comprehensive Guide - Produce Like A Pro

Synth preset là một thứ gì đó có thể hoặc có lợi, hoặc có hại, tùy thuộc vào kỹ năng và cách sử dụng của mỗi người. Đối với nhiều người chơi synth một cách “nghiêm túc”, preset là đại diện cho thứ gì đó có sẵn và rập khuôn - những sự lựa chọn dễ dàng dành cho những kẻ “ăn sẵn” muốn gây ấn tượng với người khác.

Tuy nhiên, một số lượng lớn những người chơi keyboard đều phụ thuộc vào kho tàng preset để soạn nhạc và thu âm những bản nhạc của mình.

Sự thật rằng chiếc synth nhận được thành công về mặt thương mại đầu tiên được trang bị một kho tàng preset rất chất lượng thì không phải là một điều trùng hợp. Thật vậy, chiếc DX7 lẫy lừng của Yamaha cũng nổi tiếng là khó để tự thiết kế âm thanh, và gần như một mình nó đã mở ra nền công nghiệp third-party patch (thị trường preset cung cấp bởi bên thứ ba). 

Thông thường, một nhạc cụ sẽ được định nghĩa và nhớ đến bởi một vài preset nhất định - như Wavestation của Korg là một ví dụ điển hình. Với trường âm thanh nhịp nhàng và phức tạp, cá rằng sẽ ít người mua một chiếc Wavestation vì âm thanh bass và âm thanh Clav của nó.

Một số preset được sử dụng rộng rãi (và thậm chí bị lạm dụng) đến mức mà ta có thể dễ dàng nhận ra ngay lập tức, nhờ những sản phẩm âm nhạc mà đã giúp chúng trở nên phổ biến hơn. Sau đây là 10 preset nổi tiếng nhất, những chiếc synth sở hữu preset đó, và những ca khúc đã khắc ghi chúng vào ý thức về văn hóa của chúng ta.

1. Sync (của Sequential Circuits Prophet-5)

Trước khi Sequential Circuits ra mắt chiếc Prophet-5 vào năm 1977, synthesizer preset là một khái niệm khá ít thấy - thường bị quy cho những thiết bị non-programmable như Pro Soloist của ARP. Sự kết hợp khéo léo của Sequential giữa kho tàng preset và polyphony (những nốt nhạc có thể phát ra cùng một lúc) đã tạo nên tiếng tăm cho P5, với con số 8000 chiếc đã được bán ra, đặc biệt là cho nhiều tên tuổi nghệ sĩ lớn.

Những tên tuổi lớn có thể kể đến như Greg Hawkes của The Cars, người đã nhanh chóng khai thác được preset Sync của Prophet cho đoạn riff đáng nhớ đã tạo nên thành công cho ca khúc “Let’s Go”, lead single của LP kinh điển của họ “Candy-O”. Âm thanh này - như nhiều preset khác của Prophet - đã được sử dụng quá nhiều trong những năm sau khi thiết bị này được ra mắt.

2. Vox Humana (của Moog Polymoog Keyboard)

Được ra mắt vào năm 1975, cây Polymoog nguyên bản này là một chiếc synthesizer 71 phím với những nốt polyphony giống đàn organ (những nốt nhạc có thể phát ra cùng một lúc) và vỏn vẹn 8 preset. Gặp trở ngại vào thời điểm ban đầu, tuy nhiên sau đó thiết bị này lại giành được sự yêu thích từ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, ví dụ như Rick Wakeman.

Tuy nhiên, ở phiên bản thứ hai được tối giản đi - chiếc Polymoog Keyboard - đã khắc ghi âm thanh đặc trưng của nó vào lịch sử synthesizer, nhờ một preset đã được thêm vào trong phiên bản thứ hai này - Vox Humana.

Âm thanh này rất được yêu thích bởi Gary Numan, như đã được sử dụng xuyên suốt trong album “The Pleasure Principle”. Thật vậy, đây là âm thanh đầu tiên trong album. Phù hợp cho những đoạn lead mang hơi hướng ảm đạm và và những âm thanh nhạc cụ dây trầm, chúng ta dễ có thể thấy được sức hút của preset này.

3. PPG Choir (của PPG Wave 2.2/2.3)

Khi Wolfgang Palm ra mắt những chiếc PPG synthesizer đầu tiên vào năm 1981, ít ai có thể cho rằng mình đã nghe được thiết bị nào có âm thanh giống với thiết bị này. Đây là một sự kết hợp cực kỳ thông minh giữa digital wavetable oscillator và analogue filter, tuy nhiên chỉ những người giàu có mới có khả năng mua được thiết bị này.

Tuy nhiên, mặc dù chỉ một số lượng khá ít được bán ra, chúng được xem như là sinh ra để dành cho những bảng xếp hạng âm nhạc vậy. Nhiều preset của thiết bị này được gắn liền với thể loại New Wave của thập niên 80, với cái tên preset PPG Choir là một ví dụ điển hình nhất.

Tangerine Dream đã sử dụng vocal patch với âm hưởng metallic đầy ám ảnh trong LP kinh điển “Exit”, còn Depeche Mode đã sử dụng nó trong “See You”, từ LP thứ hai của họ mang tên “A Broken Frame”.

4. E. Piano 1 (từ Yamaha DX7)

Ít synthesizer nào lại có tầm ảnh hưởng lâu dài như chiếc DX7 của Yamaha này. Từ tính năng sử dụng tuyệt vời đến phần front panel đơn sơ mà không có núm vặn nào cả, đây hoàn toàn không giống những chiếc synthesizer đã thống trị thị trường synthesizer của năm 1983.

Nó có âm thanh hoàn toàn khác với bất cứ thứ gì. Không may thay, thiết bị này lại có kết cấu khó sử dụng bao gồm những bộ khởi tạo âm thanh, thuật toán và envelope khác thường, đều được truy cập qua những menu thiếu hấp dẫn và màn hình hiển thị quá nhỏ. Tuy nhiên một lợi thế chính là chúng được trang bị với một kho tàng preset. Vì thế, những người sử dụng DX7 còn không màng đến việc tự thiết kế âm thanh của mình, và một thị trường third-party patch xuất hiện xoay quanh thiết bị này.

5. What The (Hoover) (của Roland Alpha Juno)

Kể từ lần đầu ra mắt vào năm 1985, Alpha Juno của Roland đã là một điềm báo hiệu cho một sự thay đổi trong tương lai. Vẫn giữ nguyên được cái tên Juno mà trước đây đã được gắn liền với những chiếc polysynth giá rẻ, phần front panel của chiếc Alpha Juno bị mất đi tính linh hoạt của những sản phẩm đi trước đó. Dù vậy, với giá $895, đây là mức giá rẻ hơn chiếc Juno 106 được ra mắt vào thời điểm sau đó.

Kể từ khi ra mắt, thiết bị này đã trở nên phổ biến đối với những người nghệ sĩ mà có kinh phí hạn hẹp, nhưng những người mua secondhand sau này mới là những người đã tập trung hoàn toàn vào một preset duy nhất mang tên What The - một âm thanh mà sau này được biết đến rộng rãi với cái tên khác là “Hoover”.

6. Digital Native Dance (của Roland D-50)

Nhận được thành công rộng rãi sau khi ra mắt vào năm 1987, D-50 của Roland cho thấy một cách nhìn mới về subtractive synthesis (một phương pháp tổng hợp âm thanh mà những phần của tín hiệu audio bị giảm đi bởi một filter để điều chỉnh âm sắc của sound đó), k và reverb. Đây là một công thức hết sức thông minh, được liên tục khai thác bởi 200,000 nết hợp sampled attack transients (những sự thay đổi trước khi âm thanh đạt đến cường độ lớn nhất và dần mất đi), synthesized waveform, với một chút loop sample mà có thể được mix, filter và xử lý bằng EQ, các hiệu ứng chorushạc sĩ trên toàn thế giới.

Ngoài ra, một số preset của D-50 trở nên phổ biến hơn, mặc dù chúng không dễ nhận biết như Digital Native Dance. Eric Persing và Adrian Scott, những sound engineer của Roland, đã cảm thấy cực kỳ ấn tượng, và sử dụng vòng loop này tạo ra thứ mà giờ được coi là âm thanh đặc trưng của D-50, sau đó được sử dụng bởi rất nhiều người từ OMD cho tới Miles Davis.

7. Lately Bass (Yamaha TX81Z)

Chiếc TX81Z với 4 bộ khởi tạo âm thanh là một chiếc synthesizer mà đã không nhận được sự chú ý mà nó đáng có vào thời gian ra mắt mà chỉ trở nên phổ biến hơn với những producer nhạc Dance sau đó nhiều năm. 

Nét nổi bật của thiết bị này nằm ở âm bass. Lately Bass đã tỏa sáng trong vô số bản nhạc Italo disco cũng như một số ca khúc Pop. Producer Eliot (Spice Girls) Kennedy nổi tiếng với việc sở hữu một chiếc TX81Z chỉ vì âm thanh này, trong khi đó Babyface sở hữu hai chiếc TX81Z và cả hai đều được cài đặt ở preset này. Và dĩ nhiên, còn có thể kể đến Vogue của Madonna nữa.

8. Universe (từ Korg M1)

Được ra mắt vào năm 1988, M1 của Korg đã mãi mãi thay đổi nền công nghiệp synthesizer. Được thiết kế với hình thức all-in-one workstation (tích hợp nhiều tính năng), M1 cho phép làm việc theo hệ thống multisampled instrument (một nhóm gồm nhiều sample khác nhau được sắp xếp theo hệ thống) và đồng bộ chúng với nhau cùng một multitrack sequencer phức tạp và một số các lựa chọn hiệu ứng số.

Chưa bao giờ nhiều tính năng lại được nhét vào một thiết bị đến như vậy. Piano, organ, bass và guitar, bộ trống đầy đủ cùng điều chỉnh tốc độ, và vô số âm sắc synth đã làm nên M1 trở thành một chiếc synthesizer đáng để sở hữu.

M1 có nhiều preset khác nhau mà vẫn được sử dụng đến ngày nay, bao gồm Universe, một trong những preset tốt nhất mà ta có thể nghe được vào thời điểm đó. Ngay cả Queen - người đã từng tự hào khẳng định rằng những bản nhạc của họ không bao giờ sử dụng đến synthesizer - cũng không thể cưỡng lại sức hút này.

9. Ski Jam/The Wave Song (từ Korg Wavestation)

Download KORG WAVESTATION v2.2.0 Incl Keygen-RET » AudioZ

Nếu bất cứ ROMpler (thiết bị âm thanh phát ra các sample được lưu trữ trên một chip ROM phần cứng) nào có khả năng vượt qua những giới hạn của sample-playback synthesis (một cách thức tổng hợp âm thanh mà đi ngược lại với subtractive synthesis), thì đó chính là chiếc Wavestation. Vậy, tại sao nhiều người lại chỉ trung thành với việc sử dụng duy nhất Ski Jam, preset đầu tiên của chiếc Wavestation và cực kỳ dễ nhận biết?

Một số ít người chắc hẳn đã nghịch nút gạt bên tay phải một vài lần, và tìm thấy The Wave Song, một cách minh họa gần như y hệt với wavesequencer đầy công lực của thiết bị này, nhưng cuối cùng thì nó vẫn chỉ đồng nghĩa với sự tò mò thiếu tính sáng tạo.

Không thể chối cãi được, lập trình cho Wavestation có thể là một việc dễ gây nản chí, và âm thanh nghe khá hay ho, nhưng chính nhịp điệu này thì đã xuất hiện ở khắp nơi vào đầu thập niên 90, và từng bước len lỏi vào vô số ca khúc nhạc Pop, những bản soundtrack, và hiển nhiên là các đài phát thanh địa phương.

10. The Super Saw (của Roland JP-8000)

Analogue synthesizer ảo không hẳn là hiếm thấy vào thời nay, nhưng trước đây thì chúng là một khái niệm mới mẻ và hiếm có, hứa hẹn một phiên bản lý tưởng của analogue synthesizer trong một hình thức hiện đại, ổn định và đáng tin cậy hơn.

JP-8000 của Roland là một trong những thiết bị đầu tiên xuất hiện lĩnh vực này. Trong khi thể hiện sự tôn kính dành cho những nhạc cụ trong quá khứ, JP-8000 đồng thời có nhiều tính năng hiện đại như khả năng ghi nhớ lịch sử sử dụng núm vặn và slider và Super Saw waveform, một preset sau đó trở nên phổ biến và thậm chí là bị sử dụng quá nhiều, bao gồm 7 sawthooth wave (sóng răng cưa) phát ra từ một oscillator.

Super Saw dần trở nên được yêu thích trong giới producer nhạc Trance.

(theo MusicRadar)

Related post