Music

“Discovery” Của Daft Punk Đã Đặt Nền Móng Cho EDM Như Thế Nào?

EDM là một thể loại nhạc đã càn quét các club và lễ hội âm nhạc trên toàn thế giới - đặc biệt là tại Mỹ - trong những năm cuối của những năm 2000s, đưa một làn sóng của 90s Electronica đến với thị hiếu đại chúng.
Nguyễn Minh Hằng 24 tháng 09,2021

Chúng ta có thể không cần thiết phải cảm ơn họ - thậm chí có thể họ cũng sẽ không cảm ơn chính mình - nhưng không thể bàn cãi rằng Daft Punk đã có công trong việc mở đường cho EDM, một xu hướng đưa thể loại nhạc này đến với thị hiếu đại chúng của khán giả vào những năm cuối của những năm 2000s, đặc biệt là tại Mỹ. Nhạc House và Techno là những phát minh của người Mỹ, được sinh ra từ những club tại Chicago, New York và Detroit. Nhưng nó đã đưa EDM nổi dậy làn sóng Electronica vào những năm 1990s và xuất hiện một sự quan tâm mới đối với những âm thanh điện tử của những producer Hip-Hop, đưa thể loại nhạc này đến với mainstream tại chính quê nhà của nó. Và Daft Punk đóng góp một phần cho sự nổi lên của EDM.

Daft Punk, 28 năm, lời chia tay cũng phải "nghệ" đến phút cuối cùng

Trước năm 2006, Daft Punk đã được tận hưởng những thành công và sự tôn kính tại đất Mỹ. Họ là một phần của làn sóng đầu tiên khi những nghệ sĩ nhạc Dance đến từ châu Âu du nhập lại nhạc Dance vào Mỹ ở thập kỷ 90, bên cạnh The Prodigy, The Chemical Brothers, Fatboy Slim và Underworld, và “Discovery” đã đạt được hạng 23 trên những bảng xếp hạng tại Mỹ sau khi được phát hành. 

Thời kỳ hoàng kim này đã dần bị dập tắt vào năm 2005 khi thành tích cao nhất của “Human After All” là hạng thứ 98 tại Mỹ, nhìn chung là thành tích bảng xếp hạng của album này khá thấp. Nhưng màn trình diễn live của Daft Punk vào năm 2006 tại lễ hội âm nhạc Coachella, theo Philip Sherburne viết trong Spin, là “bước ngoặt” cho thể loại EDM tại đất Mỹ, một buổi diễn đã “thực sự giới thiệu Daft Punk đến với những đứa trẻ mê Rock”, nhờ vào sự hoài niệm về những năm cuối của thập kỷ 90 và màn trình diễn phi thường của bộ đôi, khi họ biểu diễn bên trong chiếc kim tự tháp đặc trưng lần đầu tiên.

‘Chúng tôi biết trước rằng đây sẽ là một màn trình diễn tuyệt vời,” Paul Tollett, co-founder của Coachella, chia sẻ cho một buổi phỏng vấn cho Beats 1 của Apple, “nhưng trước đây họ chưa bao giờ biểu diễn khi đội mũ robot, trước đây đó chỉ là những bức ảnh cho báo chí. Mọi người tưởng đã có được trong đầu màn trình diễn sẽ như thế nào nhưng chúng ta chưa bao giờ thấy nó trước đây. Và nó tuyệt hơn những 100 lần. Nó thật điên rồ.” Khoảng 40,000 người cố gắng len lỏi vào Sahara Tent khi Daft Punk biểu diễn tại Coachella, nơi chỉ có sức chứa 10,000 người, theo quản lý của bộ đôi Pedro Winter, và danh tiếng của Daft Punk đã phát triển tại đây.

LA Weekly Ranks Daft Punk's Coachella Performance As Best Of All Time |  Your EDM

“Nhiều người dân Mỹ, ngoài những raver, chưa xem những màn trình diễn live nhạc điện tử trước khi có Coachella,” Sherburne chia sẻ. “Có thể nói đây là một sự soi sáng cho họ khi họ chưa bao giờ được xem ai đó lên sân khấu với những chiếc máy tính hay synthesizer và cũng không biết rằng điều đó là khả thi. Một phần quan trọng khác là phần nhìn, đó là chiếc kim tự tháp, hiệu ứng ánh sáng,...

Màn trình diễn ấn tượng của Daft Punk tại Coachella đã chứng minh cho sự ảnh hưởng đối với nền âm nhạc điện tử đang dần phát triển này, cả về hiệu ứng visual lẫn cách thức nó cho thấy những nghệ sĩ nhạc điện tử có thể chơi một set nhạc với âm nhạc của riêng mình, hơn là phụ thuộc vào những bản thu của các nghệ sĩ khác, như những gì các DJ trước đây vẫn làm. Thực ra, công thức tiêu chuẩn của EDM với hiệu ứng ánh sáng hoành tráng + những bản nhạc thành công của bạn, vẫn tồn tại cho đến ngày nay, được cho rằng là sinh ra từ Coachella. (Nhạc Rock, dĩ nhiên, khá thích sử dụng cách thức này.)

Rumors are flying that Daft Punk will headline Glastonbury - Dancing  Astronaut : Dancing Astronaut

“Trong EDM gần như hình thành một sự kỳ vọng: mặc dù trong giới underground bạn là một DJ thực thụ chỉ khi bạn chơi nhạc của người khác, trong EDM đã hình thành một quan niệm rằng một nghệ sĩ EDM thực thụ chỉ chơi nhạc của chính họ,” Sherburne nói. “Đó là giá trị của họ: rằng fan muốn đến và xem một set nhạc tràn ngập âm nhạc từ nghệ sĩ yêu thích của họ, hơn là xem nghệ sĩ yêu thích của họ chơi một đống những bản nhạc hay đã được chọn ra. Nó rất ‘rock’, như thần thoại về người nghệ sĩ thiên tài.”

Nhiều người đi đầu trong EDM đã nhắc đến sức ảnh hưởng của Daft Punk đối với âm nhạc của họ. Avicii khẳng định rằng lối vào dẫn anh tới nhạc điện tử chính là “nghe rất nhiều nhạc của Daft Punk, trước cả khi tôi biết nhạc House là gì”; Swedish House Mafia đã ví Daft Punk là “anh hùng đối với mọi thứ”; và Skrillex đã nói rằng việc xem Daft Punk biểu diễn trong chiếc kim tự tháp đã thay đổi cuộc đời anh. (Daft Punk không đáp lại lời khen: trong một buổi phỏng vấn với NME năm 2013, De Homem-Christo đã nói rằng EDM “chỉ bao gồm năng lượng. Nó thiếu chiều sâu.”) Về mặt âm nhạc, bạn có thể nghe đâu đó những sự ảnh hưởng của hiệu ứng sidechain compression, sự cao trào được đẩy lên và những đoạn riff bắt tai của Daft Punk trong những sản phẩm của những ngọn đuốc dẫn đầu EDM.

Good Morning Mix: rinsing Daft Punk's iconic Coachella set 'One More Time'  : Dancing Astronaut

Nhưng thế còn “Discovery” nói riêng thì sao? Album thứ hai của Daft Punk đã đóng góp vào sự nổi dậy của EDM như thế nào?

Trên một mức độ nhất định, “Discovery” được xếp vị trí là một trong ba album phòng thu được Daft Punk phát hành trước sự bùng nổ của EDM (“Tron: Legacy” và "Random Access Memories” ra mắt khi EDM đã có một vị trí vững chắc trong nền âm nhạc), đồng nghĩa rằng đây là yếu tố chủ đạo góp phần cho sức mạnh ảnh hưởng của Daft Punk. Swedish House Mafia, Skrillex, deadmau5, Martin Garrix và David Guetta đều chơi “Harder, Better, Faster, Stronger” trong những DJ Set của họ, trong khi đó setlist của Daft Punk tại Coachella là một sự kết hợp điển hình và cân bằng giữa các ca khúc thuộc cả ba album phòng thu tính tới thời điểm đó.

Hear Daft Punk's Rare Rex Club Recordings From 1997 | Telekom Electronic  Beats

Tuy nhiên có nhiều mối liên kết hơn là chỉ có vậy. “Discovery” có hai yếu tố chủ chốt góp phần giới thiệu về Daft Punk - và mở rộng hơn - giới thiệu lại về nhạc điện tử - tới khán giả đại chúng tại Mỹ. EDM là một hiện tượng toàn cầu. Nhưng phần lớn thế giới vốn đã chấp nhận nhạc điện tử trước khi EDM thành công. Tuy nhiên, tại Mỹ, EDM đánh dấu cột mốc đầu tiên khi nhạc điện tử đã chạm đến bộ phận khán giả mainstream, sau hơn hai thập kỷ kể từ khi những producer người Mỹ sáng tạo ra nhạc House.

Yếu tố chủ chốt đầu tiên đó là “Discovery” đã sử dụng Soft Rock, có lẽ là thể loại nhạc mang âm hưởng Trung Mỹ nhất. Âm nhạc của Daft Punk đã có những “dấu vết” thể hiện “Americanophile” (sính Mỹ), từ âm thanh của Dr. Dre trong “Da Funk” đến tình yêu của bộ đôi dành cho hiệu ứng compression từ những đài radio của Mỹ.

“Vài người thích âm thanh tuyệt vời của guitar và chúng tôi rất thích âm thanh của hiệu ứng compression,” De Homem-Christo chia sẻ với Mix. “Đó là một trong những tình yêu lớn nhất mà chúng tôi dành cho trong việc làm nhạc, đặc biệt là những âm thanh của FM Radio tại Mỹ khi mà hiệu ứng compression làm nên tất cả mọi thứ. Đôi khi bạn thích âm thanh đó đến mức cảm thấy thất vọng khi nghe qua CD.”

Xu hướng này kết thúc khi “Random Access Memories”, album năm 2013 của Daft Punk, được thu âm trong những studio đắt đỏ cùng với những session musician giỏi nhất của Mỹ.

Nhưng đó là sau sự kiện Coachella. Trước sự kiện Coachella, “Discovery” là album “mang tính Mỹ” nhất của Daft Punk, sự hòa quyện của Disco, House và Rock đã vượt qua những trung tâm thành phố tự do của Mỹ để tiến vào vùng đất của Rock.

Được trích từ cuốn sách mới của Ben Cardew mang tên “Daft Punk’s Discovery: The Future Unfurled”- một cuốn sách với hơn 25 bài phỏng vấn, cũng như những bài phỏng vấn cũ chưa được công khai bởi chính bộ đôi người Pháp.

(theo DJ Mag)

Related post