Culture

Daft Punk, Discovery, Daft Club Và Sự Suy Đồi Của Nền Công Nghiệp Âm Nhạc

Daft Punk’s Discovery, một cuốn sách được viết bởi Ben Cardew - một nhà báo chuyên viết về âm nhạc, đã đưa ra một góc nhìn toàn diện về Discovery với tư cách là một hiện tượng văn hóa và giải thích tầm ảnh hưởng tới nền âm nhạc của album này.
Nguyễn Minh Hằng 11 tháng 09,2021

Daft Punk tan rã - VnExpress Giải trí

Cuốn sách mới của Ben Cardew, Daft Punk’s Discovery, đã được chính thức phát hành vào ngày 3/9. Cuốn sách này là “một sự tôn kính dành cho album “quái vật” đầy thú vị và đã có tầm ảnh hưởng lớn đến thế kỷ 21”. Chương 5 của cuốn sách đã nói về Daft Club, một online fan club mang tính tiên tiến của bộ đội người Pháp này, được ra đời cùng lúc album được ra mắt vào năm 2001, và đã giúp mở đường cho nền âm nhạc online trong thời kỳ những nền tảng nghe nhạc trực tuyến như iTunes chưa xuất hiện. Và Loop Central xin giới thiệu về một phần nội dung được trích từ cuốn sách Daft Punk’s Discovery.

New book on the legacy of Daft Punk's 'Discovery' announced | DJMag.com

"Mọi chân lý đều trải qua ba giai đoạn. Đầu tiên, chúng bị lôi ra làm trò cười. Tiếp theo, chúng bị phản đối kịch liệt. Và cuối cùng, mọi người chấp nhận chúng như một sự thật hiển nhiên." - Arthur Schopenhauer

Đĩa than Daft Punk - Discovery (Vinyl 2xLP) - Đĩa Nhựa – Hãng Đĩa Thời Đại  (Times Records) | Record label in the Heart of Saigon

Vào năm 2001, khi Discovery được phát hành, có khoảng 458 triệu người dùng Internet trên toàn thế giới, hoặc 7.6% của dân số thế giới, với số lượng lớn người sử dụng kết nối mạng  rất chậm và không đáng tin cậy với hình thức truy cập quay số. Nhiều người truy cập vào Internet tại các thư viện và đại học cũng gặp phải trường hợp này, họ thường xếp hàng để có được nửa tiếng ít ỏi sử dụng Internet, trong khi người xếp hàng tiếp theo thì chờ đợi trong lo lắng.

Băng thông rộng không hơn không kém là một ước mơ của chúng ta thời đó. Tại Mỹ, có một số người đã bắt kịp công nghệ của năm 1999 này, cho thấy băng thông rộng xuất hiện trong 4% các hộ gia đình vào năm 2000. Tuy nhiên công nghệ này chưa được sử dụng rộng rãi cho đến vài năm sau, khi các công ty viễn thông bắt đầu mở bán rộng rãi cho thị trường Internet vẫn còn mới mẻ này.

Đầu năm 2001, tình cờ thay, cũng chính là khi dịch vụ nghe nhạc trực tuyến Napster đạt được đỉnh cao của nó, hai năm sau khi sự ra đời của nó về lý thuyết đã thay đổi cách chia sẻ dữ liệu hoạt động. Tuy nhiên, việc download một bài hát qua truy cập quay số thì tốn khá nhiều chi phí đối với một số người. Vào thời điểm đó, Napster chỉ có 26.4 triệu người dùng đăng ký, chỉ bằng 1/13 số người sử dụng Spotify ngày nay và một phần nhỏ số người mua CD lúc đó.

Khép lại đế chế nhạc số mang tên Napster

Mặc dù nền công nghiệp âm nhạc vẫn lo lắng về Napster, việc kinh doanh vẫn chứng kiến những sự bùng nổ doanh thu vào năm 2001, khi Discovery được chính thức lên kệ. Năm 1999 đã chứng kiến thời kỳ đỉnh cao của việc kinh doanh nhạc thu âm trên toàn cầu, nhưng năm 2001 cũng không kém cạnh gì khi đem lại $23.4 triệu doanh thu nhờ bán đĩa CD, một con số mà đã dẫn xa trước nền công nghiệp âm nhạc hiện nay. Kỹ thuật số là một phần của sự phân phối trong thị trường âm nhạc năm 2001 nhưng hiện trạng của nền công nghiệp này đã chỉ ra rằng những hoạt động minh bạch trong lĩnh vực này vẫn còn là hiếm có.

“Năm 2001, đã có nhiều sự quan tâm đối với kỹ thuật số trong nền công nghiệp âm nhạc,” theo nhà báo Eamonn Forde, người đã viết The Final Days of EMI: Selling The Pig. “Những ông lớn thực sự nhận thức được những gì đang xảy ra lúc đó, Hiệp hội Âm nhạc Độc lập của Vương quốc Anh đã thành lập RightsRouter (tiền nhiệm của Merlin, một giấy phép định dạng số về bản quyền âm nhạc cho cho các label thu âm độc lập), những label độc lập như Beggars và Ninja Tune đều thường sử dụng biện pháp này. Nhưng nó vẫn chưa đủ lớn. Việc download nhạc hợp pháp trên iTunes chưa xuất hiện cho đến năm 2003 tại Mỹ, 2004 tại châu Âu, và cả định dạng số cũng được coi là một thứ gì đó đắt đỏ - những website trị giá hàng ngàn triệu đô để lập nên, bởi thế nên ít công ty có thể tạo ra chúng - nhưng không kiếm lại được nhiều tiền. Mặc dù số lượng mua CD đã giảm nhưng vẫn đem về cho nghệ sĩ một số tiền lớn, vì thế không có nghĩa lý gì người ta lại mau chóng loại bỏ đĩa CD cả.

Nói rằng Daft Club - dịch vụ nghe nhạc online / fan club online của Daft Punk - đã đi trước thời đại thì quả là một sự đánh giá thấp tầm quan trọng của nó. Sáng kiến về những fan club đã xuất hiện trong vài thế kỷ. Tuy nhiên ý định về một website nơi fan có thể download nhạc, khoảng hai năm trước khi iTunes ra đời, hay một fan club online ba năm trước khi Facebook ra đời, thì hẳn là hiếm có.

Short circuit — ¡Congratulations! You are a Dafter. Daft Card

"Cảm giác như Daft Punk đến từ tương lai vậy," Orla Lee-Fisher - trưởng phòng Marketing của Virgin Records UK vào thời gian Discovery được phát hành - đã dành lời cảm thán. "Họ thực sự đã đi trước mọi thứ. Như Daft Club: những sáng kiến của họ vượt xa công nghệ và những khả năng mà họ muốn đạt được. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ kỹ thuật số, họ vượt xa chính bản thân mình, họ chính là một nền giáo dục, làm việc với họ là một sự giáo dục."

“Thời điểm ra đời của Daft Club trong hoàn cảnh băng thông rộng đang được đưa vào sử dụng thực sự khá thú vị,” theo Forde. “Vào năm 2002, Vương quốc Anh chỉ có 200,000 người dùng băng thông rộng nhưng con số đó tăng lên đáng kể với 13 triệu vào năm 2006. Vậy Daft Club đã ra đời vào đúng lúc mọi thứ đang bắt đầu phát triển.”

"Đối với đa số mọi người, kết nối Internet nhanh là thứ mà họ chỉ có thể truy cập khi ở nơi làm việc hay môi trường đại học. Việc dành thời gian lên mạng tại nhà là một thứ gì đó quá xa lạ với đa số mọi người. Hơn nữa, việc lên mạng khi đang ở ngoài đường bị nhiều người coi là lố bịch. Và mọi thứ đã thay đổi, dĩ nhiên là với sự ra đời của iPhone năm 2007. Đây không phải là chiếc điện thoại thông minh đầu tiên trên thế giới nhưng nó là chiếc điện thoại đã mang tới làn sóng của điện thoại thông minh. Sáng kiến về một online fan club vào năm 2001 chính là định nghĩa thực sự của “sự thích hợp” - cả về mặt công nghệ để truy cập nó lẫn sự quan tâm của fan đối với nó.”

Điểm ấn tượng chính là Daft Punk đã dành những lời khen cho Internet như một cách thức trao đổi vào năm 1997. “Mạng khiến mọi thứ trở nên dễ truy cập hơn,” Bangalter, một nửa của Daft Punk, chia sẻ với Melody Maker trong một buổi phỏng vấn vào năm đó. “Bạn có thể truy cập những website nhỏ cũng như những website lớn. Bạn có thể bán những bản thu âm mà không cần phải rời phòng ngủ và bạn không cần một đội ngũ producer lớn. Bạn sẽ không cần phải gõ cửa từng hãng thu âm một, hoặc bộ phận tìm kiếm và quản lý nghệ sĩ và  tòa tạp chí với đống đĩa mà họ còn chẳng bao giờ thèm động vào.”

Mysterious Website Hints at a Daft Punk World Tour | Time

DJ đến từ Dublin và nhà sử gia về Daft Punk Konor Keeling nói rằng Daft Punk vốn đã có một sự hiện diện đầy thông minh qua trang web chính thức của họ ngay cả trước khi Discovery được phát hành. “Vốn dĩ họ đã suy nghĩ về những khả năng về mặt nghe nhìn mà Internet có thể mang lại,” anh cho rằng. “Tôi vẫn nhớ là trang web của họ, website Daftpunk.com, có rất nhiều hình ảnh đồ họa khá thú vị chịu ảnh hưởng từ Kraftwerk, Ashley Beedle và vân vân.”

Simon Scott, hiện là co-founder của Push Entertainment, đã làm việc cho InterTrust (người đã thành lập ra Digital Rights Management) tại Mỹ vào năm 2000, khi anh được mời để gặp Thomas Bangalter và bố anh ấy, producer kiêm nhạc sĩ Daniel Vangarde, để thảo luận về một dự án số mới.

Scott chia sẻ rằng sáng kiến về Daft Club bắt nguồn từ một khao khát của Daft Punk muốn “phân tích album” mà họ đã dành những năm qua để tạo nên. “Về cơ bản là họ muốn cho mọi người thấy những kết quả cuối cùng của các sản phẩm có thể đã được ra mắt theo một hướng khác,” anh giải thích. “Họ muốn phát hành những mảnh âm nhạc mà mình đã bỏ đi hoặc được đặc biệt chọn lọc, để vén lên tấm màn đằng sau những sản phẩm của họ.”

Quá trình này, theo Scott, được thực hiện một cách dễ dàng bởi bộ đôi này toàn quyền nắm giữ bản quyền cho những bản nhạc của mình. “Bố của Thomas, ông Daniel… chính là ngọn hải đăng dẫn đường khi Thomas bước chân vào ngành công nghiệp này,” Scott giải thích. “Khi Thomas ký kết thỏa thuận phân phối với Virgin/EMI, họ đã giữ lại toàn bộ bản quyền cho mình. Bởi Daniel biết chúng sẽ trở nên hết sức quan trọng.” Công việc của Scott chính là biến sáng kiến của việc “tháo dỡ” album thông qua Daft Club thành hiện thực. “Bạn cần phải cung cấp những công nghệ như thế nào để biến nó thành hiện thực?” Scott chia sẻ.

(theo musically)

Related post