Culture

7 Producer Tiêu Biểu Góp Phần Cách Mạng Hóa Việc Sử Dụng Sample

Hãy cùng tìm hiểu về những người đã đi tiên phong trong việc sử dụng sample góp phần thay đổi nền âm nhạc như thế nào - và làm thế nào để học tập những hướng tiếp cận của họ để tạo ra những sản phẩm hay hơn.
Nguyễn Minh Hằng 24 tháng 08,2021

Famous Samples In Electronic Music - DJ TechTools

Sample, nếu được khai thác tốt, là cả một nghệ thuật. Đó là nền móng cho nhạc Hip-Hop và những thể loại nhạc xuất phát từ nó. Thế hệ mới được giới thiệu về những bản nhạc kinh điển và những viên ngọc bị bỏ quên, cho chúng được sống lại trong lòng người nghe. Việc sử dụng sample đã góp công lớn vào sự thành công của nhiều nghệ sĩ sau khi sự nghiệp của họ tưởng như đã kết thúc, thậm chí còn thành công hơn cả thời gian họ đang hoạt động. Tuy nhiên, đối với mỗi câu chuyện về sự thành công, có hàng tá những nghệ sĩ sử dụng sample không được trả tiền thích đáng với những sản phẩm của họ. Cuối cùng, sample có một bề dày lịch sử trong nền âm nhạc đại chúng từ những cuộc thí nghiệm của The Beatles tại Abbey Road Studio vào những năm cuối của thập niên 60, và nó vẫn mãi mãi là một nền móng cho âm nhạc hiện đại.

Một số nghệ sĩ tiên phong đã góp phần thúc đẩy việc sử dụng sample sang những phạm trù âm nhạc khác và chứng minh rằng sample cũng có thể là một loại nhạc cụ theo cách riêng của nó. Và sau đây là 7 nghệ sĩ xuất sắc nhất trong việc sử dụng sample, tại sao họ lại có tầm ảnh hưởng, và bạn có thể học tập từ họ cho những sản phẩm của mình như thế nào.

Hãy nhớ rằng sử dụng sample khi chưa chưa được cho phép là phạm pháp và vi phạm bản quyền. Bất kỳ mẫu sample nào mà bạn sử dụng đều phải sample pack không bản quyền hoặc thư viện của riêng bạn. Việc xin phép từ nghệ sĩ gốc cho những sample bạn sử dụng để phát hành là khả thi, tuy nhiên nếu nghệ sĩ bạn sample càng nổi tiếng thì việc đó lại càng khó. Sử dụng sample có thể rất vui, và bạn có thể học được nhiều thứ từ chính việc nghịch ngợm trong những thí nghiệm của riêng mình. 

DJ Premier

Chịu ảnh hưởng lớn từ người đã đặt nền móng cho văn hóa sample từ những bản nhạc hiếm ai biết của Hip-Hop, Marley Marl - người đã quảng bá phần lớn những bản breakbeat và sample nổi tiếng nhất của Hip-Hop - DJ Premier có một số lượng khổng lồ những sản phẩm được công nhận nhờ phong cách đặc trưng của mình. Là một nửa của Gang Starr sát cánh cùng Guru, anh đã tạo ra hàng loạt các bản hit từ Jay-Z đến Dr.Dre, D’Angelo và Christina Aguilera.

Phong cách “syncopation” (đảo phách, nhấn vào) của Preemo là sử dụng những sample được cắt ra theo nhịp syncopation, staccato (nảy note), phần lớn được lấy ra từ những bản nhạc Soul, Funk, Jazz và những Hip-Hop track khác. Những đoạn điệp khúc của anh được ghép khéo léo bởi những đoạn ngắn từ một vài bài Hip-Hop để tạo nên những câu từ mới. Một số bản nhạc được chơi live trên MPC, trong khi anh scratch những bản nhạc khác trên turntable để tạo thêm những cú twist và những yếu tố Hip-Hop khác cho bản nhạc. Cách anh xâu chuỗi những sample này làm chúng cảm giác gần như là một đoạn hội thoại. Đó chính là hình thức “gọi và trả lời”, khi hai phân đoạn nhạc nghe như một đoạn đối thoại nhạc kịch. Anh cũng là một người rất khéo léo trong việc tìm những sample nối để tạo nên những bản nhạc trôi chảy.

Mặc dù đã có những producer vĩ đại đi trước anh và thổi một linh hồn mới vào cả những bản nhạc không tiếng tăm lẫn phổ biến, DJ Premier làm nhiều hơn là chỉ sample một vòng loop nổi tiếng. Anh đã chứng minh được sức mạnh của việc sử dụng sample như một nhạc cụ, và kỹ thuật sáng tạo của anh đã truyền cảm hứng cho những nghệ sĩ thế hệ sau.

Tip: Thử nghiệm với việc dùng sample live bằng MIDI pads hoặc MIDI keyboard.

Liam Howlett

Người đàn ông đứng sau ca khúc đầu tay của The Prodigy có thể được coi là hậu duệ của bậc thầy sample của những năm 80 Art Of Noise. Anh nhanh chóng phát triển bản thân, khai thác cách tiếp cận cắt-và-dán đối với những đoạn breakbeat được tăng tempo từ những ca khúc Hip-Hop và những vocal sample được pitch-up (cao độ được chỉnh cao lên). Những đoạn vocal phong cách “sóc chuột” bắt nguồn từ Rave/Hardcore được tạo ra bởi nhu cầu hơn là sự lựa chọn về phong cách. Âm thanh càng nhanh thì đồng nghĩa với việc càng có thể thu được nhiều hơn vào bộ nhớ giới hạn của một mẫu sample.

Khi phong cách của anh đã phát triển, kết hợp sample với những đoạn synth riff chói tai, có thể rõ ràng thấy anh có một đôi tai nhạy cảm cho những giai điệu cũng như nhịp điệu và cấu trúc âm thanh. Một khi The Prodigy bắt đầu bước vào Top 10s, sự kết hợp giữa các giác quan của anh thậm chí còn có một sức hấp dẫn “pop” một cách bất ngờ. Video huyền thoại phân tích những mẫu sample đã làm nên “Smack My Bitch Up” là một minh chứng cho việc Howlett phi thường và sáng tạo như thế nào trong việc sử dụng sample. Hòa trộn Kool & The Gang, Rage Against The Machine, Randy Weston, Coldcut và Ultramagnetic MCs vào cùng một track nhạc nghe có vẻ như là công thức để tạo nên một thảm họa. Tuy nhiên, với cách sử dụng những hiệu ứng, time-stretching (thay đổi độ dài hoặc tốc độ của một đoạn audio mà không làm thay đổi cao độ), pitch-shifting (thay đổi cao độ của audio) một cách thông minh và sự sắp xếp đầy khôn ngoan, anh đã tạo nên một tác phẩm nghệ thuật đầy khoa trương mà nghe không hề giống với những gì đã xuất hiện trước đây. 

Anh sử dụng sample như một cách để biến hóa, và những sản phẩm của anh đã giúp anh mở đường cho một kỷ nguyên âm nhạc mới, nơi mà bất kỳ nguồn âm thanh nào cũng có thể được sử dụng. Ví dụ như sample những bản nhạc Heavy Metal và Heavy Rock không phải là một sự lựa chọn phổ biến vào thời điểm đó. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hai thể loại khác nhau trong bản hit “Walk This Way” của Run DMC và Aerosmith đã chứng minh điều ngược lại. Ca khúc đã giúp đặt nền móng cho những tổ hợp như Dance/Rock và Rap/Metal trong những năm tới, đặc biệt đến cả thể loại Nu Rave.

Tip: Đừng giới hạn những thể loại bạn sample và đừng ngại tận dụng những sample time-stretching và pitch-shifting hết mức.

Todd Edwards

Huyền thoại của dòng nhạc Garage đến từ New Jersey Todd Edwards đã sử dụng phong cách vocal được cắt đoạn của producer nhạc House tên MK và đưa chúng lên một tầm cao mới với kỹ thuật đảo phách. Việc cắt những đoạn vocal lẩm bẩm có thể đã được khai thác triệt để nhất bởi MK trong Top 10-crashing remix của “Nightcrawlers - Push The Feeling On”, vốn được ra mắt vào năm 1992. Edwards bắt đầu phát hành nhạc vào cùng năm đó, và anh sử dụng sự nhịp nhàng của dòng nhạc American Garage và House và đẩy nó sang một phong cách mới.

Với nền là bass đập mạnh, giai điệu keyboard gây nghiện and nhịp trống staccato, anh lồng ghép thêm những đoạn vocal ngắn với những lời lắp bắp không nghe rõ được, được chỉnh cao độ lên xuống một cách đầy thú vị để tạo ra những đoạn nhạc giống như âm thanh nhạc cụ hơn là một giọng hát. Đó là một thứ âm thanh khác biệt và đặc trưng - và đến ngày nay người ta vẫn chưa biết cách chính xác để tạo ra nó - mà chưa ai khác có thể làm chủ được ngoài Edwards. 

Tuy nhiên, âm thanh này đã truyền cảm hứng cho những người hâm mộ và muốn bắt chước nó, và anh được rộng rãi công nhận như cha đẻ cho âm thanh đặc trưng của 4x4 (four-to-the-floor) UK Garage mà sau đó những producer như Tuff Jam, Grant Nelson, MJ Cole và Ramsey & Fen đã phát triển và đưa phong cách của riêng họ vào kỹ thuật sửa vocal của anh. Đồng thời, anh đã góp phần đặt nền móng cho 2-step, Grime, Dubstep và tất cả những gì xuất hiện sau sự bùng nổ của Dubstep. Anh cũng được coi là người hùng của chính bộ đôi Daft Punk, những người đã mời anh hợp tác trong hai album phòng thu của họ.

Tip: Hãy thử bắt chước âm thanh của những nghệ sĩ bạn yêu thích. Bạn sẽ không thể bắt chước hoàn toàn được chúng. Nhưng bằng việc cố gắng, bạn sẽ tạo ra một thứ gì đó với một chút ADN của họ nhưng với điểm nhấn của riêng bạn.

DJ Shadow & The Avalanches

Khá là hợp lý khi liệt kê những nghệ sĩ này chung với nhau, bởi những sự tương đồng trong âm nhạc của họ. Album đầu tay năm 1996 “Endtroducing…” của DJ Shadow là một màn debut đầy chấn động, hầu hết bao gồm những sample từ những bản nhạc ít người biết tới được tìm thấy trong những thùng đĩa second-hand. Đáng bất ngờ, Shadow không sử dụng gì khác ngoài Akai MPC60 sampler, Technics SL-1200 turntable và một máy thu băng Alesis ADAT. Mặc dù đã xuất hiện nhiều bản nhạc sử dụng sample từ những bản Hip-Hop đời đầu, chưa có sản phẩm nào lại chứa nhiều những âm thanh đẹp đẽ, bất ngờ và khác biệt cùng được chắp vá vào một album và khiến nó nghe thật tự nhiên đến như vậy. Những sample vốn nghe ám ảnh, khác nhau và ít ai biết đến này lại nghe như chúng thuộc về nhau - một minh chứng cho bộ não tài giỏi và hàng giờ nghiên cứu những bản nhạc mà nhiều người còn không thèm nghe lại lần hai.

Bộ đôi đến từ Úc mang tên The Avalanches thì đi xa hơn với album đầu tay năm 1999 “Since I Left You” bao gồm các sample được tìm giống cách Shadow đã làm cùng sự sử dụng của Yamaha ProMix 01 và Akai S2000 sampler. Những nguồn sample của họ thì kỳ dị và đa dạng hơn của DJ Shadow. Họ cũng thêm vào đó khiếu hài hước của mình với một cách tiếp cận đầy năng lượng hơn, cùng cách thể hiện theo hướng kể chuyện hơn âm thanh nội tâm của “Endtroducing…”. Đó là một chuyến đi, một bức tranh mù mịt của những âm thanh, con người và những nơi chốn, nơi những âm thanh va vào nhau và những ca khúc không ngừng thay đổi và phát triển theo hướng không ai ngờ được. Về lý thuyết, đây hoàn toàn có thể là một mớ hỗn độn, những đây vẫn là một trong những album thu hút và kỳ quặc nhất bạn từng nghe. 

Tip: Hãy tìm kiếm những sample mà không ai sử dụng, và đừng chỉ tập trung vào những thể loại thông thường mọi người dùng. Thực sự đầu tư thời gian cho việc khám phá âm nhạc cũ, bất kể là ở cửa hàng đĩa hay online.

Daft Punk

Kỹ năng của bộ đôi đến từ Pháp Daft Punk chính là tìm kiếm những đoạn nhạc groovy nhất trong lịch sử âm nhạc thế giới và tận dụng chúng một cách hết sức hiệu quả. Từ sample của "Edwin Starr - Cola Bottle Baby" đã tạo nên bản hit "Harder, Better, Faster, Stronger" đến một bar trong "Chaka Khan - Fate" đã khiến "Stardust - Music Sounds Better With You" trở thành một bản hit “quái vật”, họ thực sự biết chọn những sample phù hợp.

Họ không cố với tới những bản nhạc nổi tiếng mà ưu tiên cho việc đưa ánh sáng đến những bản nhạc ít ai biết hơn và sử dụng chúng một cách hiệu quả. Phong cách sử dụng filter LFO-driven lên các sample trong những sản phẩm cũ của họ đã ảnh hưởng đến hàng trăm người muốn bắt chước trên khắp thế giới, giúp mở đường cho nhánh thể loại nhạc nhỏ Filter House cùng người hùng của họ là DJ Sneak.

Tip: Thay đổi hoàn toàn những mẫu sample có thể giúp chúng trở nên tươi mới và khác biệt hơn. Hãy thử những hiệu ứng lớn hơn để biến sample của bạn trở nên có hồn và có chất riêng hơn so với bản gốc.

Kanye West

Có thể nói Kanye West là một bậc thầy sử dụng sample cuối cùng chúng ta từng thấy. Anh tạo dựng nên tên tuổi của mình với tư cách là một producer bằng việc pitch up những sample nhạc Soul của những năm 60 và 70 theo phong cách giống vocal “sóc chuột” đã được kể trên mà Liam Howlett đã sử dụng vào những năm đầu của thập niên 90s. Sự vui tươi thì vẫn còn đó, nhưng với beat Hip-Hop mạnh mẽ và tempo chậm hơn, hiệu ứng lại càng trở nên kích thích hơn.

Anh đã sử dụng kỹ thuật này một cách đầy khôn khéo trong ba album đầu tiên trước khi chuyển dần sang phong cách sử dụng synth và AutoTune trong “808s & Heartbreaks”. Tuy nhiên anh trở lại với việc sử dụng sample với những nguồn âm thanh đa dạng hơn trong tác phẩm tiếp theo của anh “My Beautiful Dark Twisted Fantasy” với tất cả mọi thứ từ những đoạn vocal bị bóp méo của King Crimson (trong “Power”) và những đoạn drum break và phong cách proto-rap mạnh mẽ của Gil Scott-Heron. Anh cũng quay trở lại với thể loại Soul yêu thích của mình, sử dụng một cách thông minh những sample từ Nina Simone và Otis Redding trong những album tiếp đó. Cuối cùng, Kanye là một producer với đôi tai nhạy cảm trong việc tái cơ cấu và xây nên cây cầu kết nối giữa câu từ sẵn có của sample với lời của riêng anh. Sự ảnh hưởng của anh trong phong cách pitch-up vocal này có thể được thấy trong những sản phẩm của James Blake và Jamie xx.

Tip: Hãy nghe bộ sưu tầm của gia đình bạn nếu họ có, và đừng ngại làm những thứ không bình thường và đi ngược lại với sự hiểu biết thông thường.

(theo MusicTech)

Related post